Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014



Vận dụng tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”  của
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề biển đảo hiện nay
Trong hoạt động cách mạng và lãnh đạo xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường vận dụng và giáo dục cho cán bộ, Đảng viên phương châm Dĩ bất biến, ứng vạn biến để xử lý công việc. Và phương châm đó được thể hiện rõ nét trong quan điểm của Người về độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Nguyên tắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ phải được thấm nhuần trong tư tưởng, ấp ủ trong tâm niệm, quán triệt trong hành động của mọi công dân Việt, từ những nhà lãnh đạo đến cán bộ, Đảng viên, chiến sĩ, người dân.
Câu nói “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” được Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn lại cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi sang Pháp (ngày 31/5/1946, trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới được thành lập và phải thực hiện trọng trách giữ vững được nền độc lập). Lời căn dặn của Người đã đặt ra một cách xử lý công việc rất linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo, không máy móc, giáo điều (vạn biến) nhưng lại phải tuân theo nguyên tắc điều không được phép thay đổi (bất biến). Cái “bất biến” ấy, là lợi ích tối cao của dân tộc, được gói gọn trong 10 chữ: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Tư tưởng đó của Người được thể hiện rõ nét trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1946 và Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước năm 1966. Trong Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước, Bác Hồ đã nói: “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”. Bởi mất độc lập tự do đồng thời cũng là mất chủ quyền. Trong thời kỳ chiến tranh giữa ta với Pháp, trải qua nhiều cuộc đấu tranh trên các mặt trận, Bác Hồ vẫn kiên định nguyên tắc bất di bất dịch nêu trên.
Phương châm ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp kế thừa bằng việc thay đổi phương án tác chiến từ “đánh nhanh thắng nhanh” chuyển sang “đánh chắc tiến chắc” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Khi Đại tướng báo cáo với Người về diễn biến chiến dịch, sau một đêm thức trắng, Bác Hồ đã nói với Đại tướng rằng: “Chú là Đại tướng ra ngoài mặt trận, chú toàn quyền hành động”. Đồng thời Bác cũng quán triệt đã đánh là phải thắng. Như vậy, Người giao cho Đại tướng toàn quyền quyết định là đã cho phép ứng vạn biến nhưng Người yêu cầu phải thắng tức là dĩ bất biến. Và thực tế, Đại tướng đã thực hiện được điều đó.
Trong thời gian vừa qua, vụ việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép, xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Trung Quốc đã làm trái với Luật pháp Quốc tế, lợi dụng ưu thế nước lớn sử dụng vũ lực đe doạ, chèn ép, tấn công các lực lượng chấp pháp của Việt Nam khi đang thực hiện nhiệm vụ trên vùng biển chủ quyền của nước ta.
Trong bối cảnh hiện nay, quán triệt phương châm Dĩ bất biến, ứng vạn biến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đòi hỏi chúng ta phải ứng phó linh hoạt, tiến hành bằng nhiều biện pháp, tranh thủ mọi sự ủng hộ của các nước và nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình của thế giới cũng như nhân dân Trung Quốc lên án hành động ngang ngược, bất chấp đạo lý và Luật pháp Quốc tế mà Trung Quốc là một thành viên đã ký kết. Chúng ta vừa phải đấu tranh kiên quyết, kiên trì yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan cũng như tàu và máy bay quân sự ra khỏi vùng biển chủ quyền của ta; Đồng thời phải tích cực  hiện thực hoá các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh đã xác định, bảo đảm giành quyền chủ động về mọi mặt - Kế sách lâu dài trong sự nghiệp giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Những thông điệp này đã được thể hiện rõ trong các phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Nhà nước ta.

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014




MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
1. Dân chủ và quản lý xã hội là những vấn đề tất yếu trong sự phát triển của xã hội. Tùy theo trình độ phát triển của xã hội mà những vấn đề này được xem xét, giải quyết với những nội dung, tính chất và mức độ khác nhau. Tuy nhiên trong bất kỳ một xã hội nào cũng cần thiết phải giải quyết cho được vấn đề dân chủ và vấn đề quản lý xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, tư tưởng, xã hội của sự phát triển xã hội thời kỳ đó. Dân chủ và quản lý xã hội là hai vấn đề tưởng chừng như đối lập và trái ngược nhau, nhưng thực chất chúng có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau; mỗi bước tăng cường, mở rộng và phát huy dân chủ lại là một nội dung, biện pháp tăng cường và nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý xã hội. Ngược lại sự tăng cường quản lý xã hội cũng chính là hình thức, biện pháp và nội dung của việc tăng cường dân chủ. Do đó luận giải thực chất mối quan hệ dân chủ và quản lý xã hội, tìm ra được sự khác biệt và sự thống nhất của hai vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng cho việc phát huy được sức mạnh của cả vấn đề dân chủ và vấn đề quản lý xã hội, tạo động lực cho quá trình xây dựng, phát triển của xã hội hiện nay. Đồng thời sẽ cung cấp những luận chứng khoa học cho việc xây dựng mô hình quản lý xã hội, phát huy dân chủ; đấu tranh với những nhận thức, tư tưởngvà hành động sai trái.
          2. Trong bối cảnh phát triển của xã hội hiện đại, xu thế toàn cầu hóa và những vấn đề hiện thực xã hội đã và sẽ xuất hiện đang đặt ra rất nhiều thách thức cho mỗi quốc gia, dân tộc. Để đảm bảo cho đất nước, xã hội phát triển bền vững, mỗi quốc gia, dân tộc phải giải quyết rất nhiều vấn đề, trong đó một mặt phải tăng cường quản lý xã hội, quản lý sự phát triển của xã hội; mặt khác phải mở rộng và phát huy dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là hai vấn đề liên quan hết sức mật thiết với nhau, nhưng đó lại là vấn đề khá nhạy cảm trong xã hội hiện nay. Trong thực tế, vẫn còn tồn tại những nhận thức và hành động thực tiễn chưa đúng về vấn đề này. Còn có quan niệm cho rằng tăng cường quản lý xã hội sẽ dẫn đến hạn chế việc phát huy dân chủ và ngược lại mở rộng và phát huy dân chủ sẽ ảnh hưởng đến việc duy trì và tăng cường quản lý xã hội. Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề dân chủ và những yếu kém trong quản lý xã hội của những nước đang phát triển để thực hiện những âm mưu chống phá các nước có đường lối phát triển không có lợi cho chúng. Đất nước Việt Nam đang thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã đặt ra. Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, những biến động của thế giới hàng ngày đều tác động tới Việt Nam. Trong điều kiện đó để thực hiện tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI, gần đây là thực hiện Nghị quyết Trung ương ba khóa XI về việc thay đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, đòi hỏi chúng ta cần giải quyết nhiều vấn đề, trong đó phải gắn việc mở rộng, phát huy dân chủ với tăng cường quản lý xã hội được đặt ra như là yêu cầu hết sức trọng yếu.
1. Tổng quan về mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội trong lịch sử phát triển của xã hội
* Quan niệm về dân chủ:
Thuật ngữ dân chủ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp δημοκρατία - có nghĩa là “the power to the people”: “Quyền Lực Của Nhân Dân”, thuật ngữ này được kết hợp bởi căn ngữ δῆμος (dêmos) tức là nhân dân và κράτος (krátos) tức là quyền lực hoặc chính phủ. Thuật ngữ dân chủ  xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 trước Công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy Lạp, nổi bật nhất là Anthena sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN. Như vậy, dân chủ là một thuật ngữ đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử phát triển của nhân loại. Đến nay thuật ngữ này được sử dụng phổ biến và rất quen thuộc. Nhưng cũng có nhiều người hiểu chưa đúng thực chất. Trên thực tế nó đã bị một số phần tử lợi dụng mác dân chủ để phục vụ cho những mục đích và ý đồ đen tối. Điều này dẫn đến những quan niệm sai trái cả về mục đích cũng như những nội dung cốt lõi của vấn đề dân chủ. 
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, bản thân khái niệm dân chủ từng được sử dụng, vừa tuỳ thuộc vào những bối cảnh xã hội khác nhau, lại vừa dựa trên những căn cứ khác nhau. Chẳng hạn, với Platon, dân chủ là hiện tượng hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực, bởi vì “quyền lực thuộc về nhân dân” tất yếu sẽ dẫn tới chỗ dùng bản năng thay cho lí trí chính trị. Aristotle cho rằng, về nguyên tắc, quyền lực số đông có thể chứa thiện căn (giống như “quyền lực của một người” dưới chế độ chuyên chế và “quyền lực thiểu số” trong giới quý tộc cũng có thể chứa thiện căn như thế). Nhưng, ta biết, Aristotle gọi “quyền lực số đông” chứa thiện thiện căn như thế là chính thể, còn dân chủ chỉ là bản sao đã bị xuyên tạc của nó, thứ bản sao (khác với bản gốc) không có khả năng giữ được vị trí ưu tiên hàng đầu của cả nước và tự hạ thấp xuống mức biểu hiện tổng số lợi ích của những người nghèo khó”. Về phần mình, Hobbes sẵn sàng thừa nhận sự thích hợp của thuật ngữ dân chủ, thậm chí, thừa nhận nội dung đích thực của những hiện tượng ở phía sau thuật ngữ ấy (loại nhà nước trong đó chủ quyền tối cao tập trung một cách tuyệt đối vào tập hợp của những ai tán thành nó), nhưng theo ông, hình thức ưu việt không thể chối cãi có thể chung đúc chủ quyền toàn vẹn nói trên chính là nhà nước chuyên chế. Cuối cùng, Rousseau xem dân chủ là phương thức đúng đắn duy nhất để hiện thực hoá ý chí tập thể, nhưng ông cũng thừa nhận, bản thân ý chí tập thể này mang tính đồng nhất và không thể chia tách.
Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, tư tưởng về dân chủ cũng đã được mở rộng, phát triển. Từ thời của những cuộc cách mạng vĩ đại ở châu Âu (trước hết là cách mạng Pháp), người ta thừa nhận, dân chủ nằm trong hệ thống chủ đề về sự bình đẳng của con người, đó là sự bình đẳng như là quyền thực thi quyền lực ngang nhau của các công dân. Nói đến dân chủ có hai nguyên tắc quan trọng là: Thứ nhất, là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng; Thứ hai, tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi. Điều này có liên quan đến thậu ngữ chủ quyền nhân dân.
Tại một số quốc gia, dân chủ dựa trên nguyên tắc về quyền bình đẳng. Nhiều người sử dụng thuật ngữ "dân chủ" như một cách nói tắt của dân chủ tự do, còn bao gồm thêm một số yếu tố như đa nguyên chính trị, sự bình đẳng trước pháp luật, quyền kiến nghị các viên chức được bầu nếu cảm thấy bất bình, thủ tục tố tụng, quyền tự do công dân, quyền con người, và những yếu tố của xã hội dân sự độc lập với nhà nước. Tại Hoa Kỳ, tam quyền phân lập thường được xem là đặc tính hỗ trợ cho dân chủ, nhưng ở các quốc gia khác, như Vương quốc Anh, triết lý chi phối lại là chủ quyền tối cao của nghị viện (mặc dù trên thực tế vẫn duy trì sự độc lập tòa án). Trong các trường hợp, "dân chủ" được dùng với nghĩa dân chủ trực tiếp. Mặc dù thuật ngữ "dân chủ" thường được dùng trong bối cảnh chính trị của quốc gia, những nguyên lý này cũng áp dụng cho các tổ chức cá nhân và các nhóm khác.
Chúng tôi cho rằng cần tiếp cận vấn đề dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Từ đó có thể hiểu, về thực chất dân chủ chính là quyền lực của nhân dân, quền làm chủ của nhân dân đối với mọi lĩnh vực của xã hội. Quyền lực đó được thực hiện thông qua chính phủ của dân, do dân và vì dân; Nói cách khác, dân chủ“là chính phủ được thành lập bởi nhân dân trong đó quyền lực tối cao được trao cho nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc bởi các đại diện được bầu ra từ một hệ thống bầu cử tự do”.  Vấn đề dân chủ được hiểu trên các khía cạnh chính là:
Thứ nhất, Dân chủ là một giá trị tiến bộ của xã hội, là mơ ước, khát vọng của con người.
Thứ hai, Dân chủ về thực chất là quyền làm chủ, quyền bình đẳng của mọi người dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó gắn liền với những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định. Việc mở rộng quyền dân chủ đến đâu là do tùy thuộc vào từng điều kiện hoàn cảnh nhất định. Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, dân chủ phụ thuộc vào mục tiêu, lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Thứ ba, Vấn đề dân chủ luôn liên quan mật thiết đến vấn đề quản lý xã hội của hệ thống chính trị của mỗi nước, mỗi thời kỳ. Dân chủ và quản lý xã hội là hai phạm trù có sự khác biệt song có thống nhất chặt chẽ với nhau.
Thứ tư, Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bước tiến bộ cao nhất, đó là nền dân chủ cho mọi người dân. Dưới CNXH, mọi người dân có điều kiện, khả năng để thực hiện quyền làm chủ của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là nền dân chủ mà người dân thực hiện quyền làm chủ của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản lý của Nhà nước XHCN. Đảng cộng sản và nhà nước XHCN coi việc xây dựng, phát huy quyền làm chủ của mình trên mọi phương diện của đời sống xã hội vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, vừa là động lực của tiến trình cách mạng XHCN.
          *  Quan niệm về quản lý
          Quản lý ra đời gắn liện với hoạt động chung của nhiều người trong xã hội như Mác nói: “Mọi người lao động trực tiếp trong xã hội hoặc lao động chung thực hiện trên quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hoặc ít đều cần đến quản lý” C.Mác – Ăng ghen Toàn tập, tập 23, trang 34, Nxb Sự thật, HN, 1963). Như vậy, quản lý ra đời là yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của xã hội.
            Quản lý là một thuật ngữ đa nghĩa, đa cấp, nó được định dạng khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có những cách định nghĩa về quản lý khác nhau. Có thể đề cập đến một số cách định nghĩa sau:
Theo F.W.Taylor: quản lý là: " biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất, kinh tế nhất ". Henry Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát”. Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Peter. F. Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công".
Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện. Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng chưa đầy đủ. Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của nó. Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động. Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó. Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ bản sau cấu thành: Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý?  Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì? Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì? Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào? Có thể đưa ra kết luận rằng: Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, nó là sự kết hợp của 3 phương diện: Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân. Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên. Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể. Trong xã hội ngày nay, ở đâu chúng ta có thể nhìn thấy lãnh đạo. Mỗi quốc gia đều có Đảng cầm quyền và Chính phủ lãnh đạo; các doanh nghiệp đều có chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch điều hành, tổng giám đốc, giám đốc bộ phận lãnh đạo. Ngay cả các tổ chức phi chính phủ cũng có người đứng đầu có quyền uy lãnh đạo các thành viên trong tổ chức. Trong cuộc sống thực tế, không ít người cho rằng lãnh đạo và quản lý là cũng một khái niệm, giữa chúng không có gì khác nhau, quá trình lãnh đạo gần như chính là quá trình quản lý. Song thực ra, giữa chúng có sự khác biệt và cũng có liên quan với nhau. Những nhà quản lý học có những quan điểm khác nhau về định nghĩa lãnh đạo, nhưng nội dung bản chất là giống nhau. Họ đều cho rằng lãnh đạo là người dẫn dắt cấp dưới thực hiện mục tiêu của tổ chức. Quản lý và lãnh đạo đều có mục đích là thực hiện mục tiêu của tổ chức, nhưng chúng có điểm khác biệt rõ rệt như sau: Lãnh đạo là một chức năng của quản lý, thường được gọi là chức năng lãnh đạo, còn chức năng khác của quản lý lại không phải là lãnh đạo. Ví dụ: công việc mà những người tham mưu trong tổ chức làm là công tác quản lý, nhưng không phải là công tác lãnh đạo. Quản lý ở đây chỉ hành vi quản lý, công tác lãnh đạo vừa bao gồm hành vi quản lý, vừa bao gồm hoạt động nghiệp vụ khác. Thông thường, lãnh đạo chủ yếu là lãnh đạo con người, xử lý quan hệ giữa người với người, đặc biệt là quan hệ cấp trên và cấp dưới. Đây là vấn đề cốt lõi trong hoạt động quản lý. Còn về quản lý, ngoài quản lý con người, đối tượng của quản lý còn bao gồm tài chính, vật chất. Quản lý không chỉ xử lý quan hệ giữa người với người mà còn phải xử lý mối quan hệ tài chính và vật chất, giữa vật chất và con người, giữa con người và tài chính. Phạm vi mà quản lý đề cập đến rộng hơn nhiều so với lãnh đạo. Quản lý và lãnh đạo khác biệt nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau. Lãnh đạo và quản lý thuộc hai tầng hoạt động khác nhau song chúng lại có quan hệ mật thiết khó tách rời. Hoạt động lãnh đạo tập trung vào việc đưa ra quyết sách, xác định mục tiêu, kế hoạch phấn đấu, vạch ra chính sách tương ứng và phương hướng lãnh đạo khu vực, ban ngành, đơn vị tiến lên phía trước… Còn quản lý tập trung giữ vững và tăng cường hoạt động của tổ chức để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu mà lãnh đạo đã xác định. Quản lý được phân thành nhiều lĩnh vực khác nhau: Quản lý giới vô sinh (những tài sản vật hóa như ruộng đất, nhà xưởng…); đây là dạng quản lý cho phép chủ thể tác động trong bất kỳ thời gian, không gian nào cũng có thể mang lại những hiệu quả nhất định. Quản lý giới sinh vật (những thực thể sống gắn liền với tài sản vật hóa có chu kỳ sinh trưởng riêng như: cây trồng, vật nuôi…); đây là dạng quản lý mà chủ thể phải tác động đến đối tượng quản lý dựa vào chu trình sinh trưởng và phát triển của nó. Quản lý giới xã hội bao gồm các thực thể có tổ chức, có lý trí kết thành hệ thống chặt chẽ. Đây là dạng quản lý phức tạp nhất vì đối tượng là con người và tổ chức.
* Quan niệm về quản lý xã hội và quản lý XHCN.
 Quản lý xã hội chính là việc quản lý tổng thể xã hội hoặc quản lý từng mặt, từng khía cạnh của đời sống xã hội. Đối tượng của quản lý xã hội chính là xã hội bao gồm: các nhóm, các tổ chức, các thiết chế xã hội, cộng đồng xã hội và các lĩnh vực của xã hội; chủ thể của quản lý xã hội chính là các tổ chức, cá nhân.
Theo tinh thần trên, chúng tôi cho rằng: quản lý xã hội là những tác động có ý thức của con người và các tổ chức vào xã hội nhằm sắp xếp, duy trì toàn bộ các hoạt động của xã hội, để bảo đảm cho xã hội tồn tại và phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

          Quản lý xã hội XHCN là một phạm trù thuộc phạm trù quản lý xã hội phát triển. Theo đó, quản lý xã hội XHCN là hoạt động tự giác của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, tác động một cách có mục đích, có kế hoạch vào các lĩnh vực, các yếu tố, các quá trình xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển ổn định, bền vững, huy động mọi nguồn lực của xã hội để xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội XHCN. Từ cách tiếp cận đó cho thấy:
          Chủ thể quản lý xã hội XHCN là Đảng cộng sản, Nhà nước XHCN, các tổ chức chính trị xã hội…, nhân dân lao động. Vận hành theo phương thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.
          Đối tượng quản lý xã hội XHCN là các yếu tố, các lĩnh vực, các quá trình xã hội, các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Ở đây cần nhận thấy việc phân chia chủ thể và đối tượng quản lý xã hội có tính chất tương đối.
          Phạm vi, nội dung của quản lý xã hội XHCN có phạm vi rất rộng nó bao hàm tất cả các lĩnh vực, các tổ chức, các cá nhân trong xã hội. Tùy từng lĩnh vực cụ thể mà có các phương thức quản lý xã hội khác nhau. Nhưng quy trình quản lý xã hội nhìn chung đều tuân thủ theo các bước: Kế hoạch hóa sự phát triển; tổ chức bộ máy, có cấu, phương thức vận hành; đưa ra những tác động điều khiển, điều chính, giám sát, kiếm tra, thu nhận thông tin mới về trạng thái của đối tượng bị quản lý…
          Phương tiện, công cụ quản lý xã hội XHCN đó là đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản, Hiến pháp, pháp luật, các chính sách của Nhà nước; các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội… các thể chế xã hội khác như đạo đức, dự luận xã hội….
          2. Mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội
          2.1.  Mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội trong lịch sử phát triển của nhân loại
          Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Tương ứng với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội cũng được luận giải và tổ chức thực hiện trên thực tế không đồng nhất với nhau.
          Dưới chế độ cộng sản nguyên thủy, trình độ dân chủ và trình độ quản lý xã hội còn hết sức thấp kém, mang tính tự phát. Tuy nhiên mọi thành viên trong công xã, thị tộc đều có quyền, nghĩa vụ tham gia quản lý mọi mặt của công xã, thị tộc đó. Lúc này, quản lý xã hội và dân chủ quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau tuy ở mức độ sơ khai.
          Sang thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến; quan hệ dân chủ và quản lý xã hội được biểu hiện tập trung ở địa vị giai cấp. Dân chủ và quản lý xã hội chỉ thuộc về tầng lớp chủ nô và các lãnh chúa. Đối với nô lệ và nông dân, là lực lượng bị áp bức thống trị, bị tước đoạt những quyền cơ bản của con người; họ không được tham gia vào quản lý xã hội.
          Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa vấn đề dân chủ và quản lý xã hội đã có bước phát triển mới. Tuy nhiên xét về bản chất, dân chủ và quản lý xã hội dưới chủ nghĩa tư bản chỉ thuộc về số ít người đó là tầng lớp giai cấp tư sản.
          Bước sang giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa tư bản đã có sự điều chỉnh, thích nghi, nhưng thực tế quyền quản lý xã hội vẫn thuộc về thiểu số, thuộc về những giai cấp tư sản. Cuộc biểu tình chiếm phố Uôn vừa qua ở Mỹ và đã lan ra một loạt nước Châu Âu hiện nay đang chứng minh rất rõ vấn đề này. Rõ ràng dưới chế độ TBCN, dân chủ và quản lý xã hội chứa đựng sự mâu thuẫn, khác biệt khó dung hòa. Điều này do bản chất của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định.
           Dưới chủ nghĩa xã hội xét về bản chất, dân chủ và quản lý xã hội thống nhất chặt chẽ với nhau - điều này do bản chất của chế độ xã hội XHCN quyết định. Tuy nhiên giữa chúng vẫn có sự khác biệt ở tính độc lập tương đối của chúng.
           2.2. Mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa
Dân chủ và quản lý xã hội là hai phạm trù khác biệt, xong giữa chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Làm rõ tính độc lập và tính thống nhất của vấn đề dân chủ, chỉ ra bản chất mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chúng có tác dụng to lớn cho việc nâng cao tác dụng của cả vấn đề dân chủ và vấn đề quản lý xã hội, thông qua đó thúc đẩy xã hội vận động, phát triển một cách nhanh chóng, bền vững hơn. Nói cách khác giải quyết hài hòa, khoa học và nghệ thuật cả vấn đề dân chủ và vấn đề quản lý xã hội sẽ tạo ra “tính trồi” mới của cả sức mạnh dân chủ và sức mạnh quản lý xã hội.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội chúng ta cần giải quyết thỏa đáng cả hai phương diện sau: Thứ nhất, luận giải rõ tính độc lập tương đối của vấn đề dân chủ và vấn đề quản lý xã hội; Thứ hai, luận giải rõ tính thống nhất giữa dân chủ với quản lý xã hội. Thực hiện tốt việc luận giải đó sẽ cung cấp những luận chứng khoa học xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn cho sự tăng cường dân chủ và tăng cường quản lý xã hội trong chế độ XHCN hiện nay. Sự khác biệt và sự thống nhất giữa dân chủ và quản lý xã hội trong xã hội XHCN được biểu hiện trong cả bản chất, nội dung, phương thức tổ chức thực hiện. Mối quan hệ gắn bó giữa dân chủ và quản lý xã hội được thể hiện trên các vấn đề chính sau:
2.2.1. Dân chủ và quản lý xã hội đều là một phạm trù xã hội, là sản phẩm của điều kiện lịch sử - xã hội phản ánh trình độ phát triển của xã hội.
Như vậy, dân chủ và quản lý xã hội luôn gắn chặt với những điều kiện lịch sử cụ thể, gắn với mục tiêu, lợi ích của giai cấp cầm quyền trong chế độ xã hội đó. Không thể mơ hồ về cái gọi là “dân chủ tuyệt đối” cho mọi người trong chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Nền dân chủ XHCN là nền dân chủ đích thực, Nhà nước XHCN thực sự là Nhà nước của dân do dân và vì dân. Quản lý xã hội trong chế độ XHCN cũng phải được thực hiện trên nguyên tắc tối thượng là quản lý nhằm vào mục tiêu giải phóng toàn bộ sức mạnh của nhân dân, đem lại sự bình đẳng và quyền lực thực sự cho mọi người dân trên mọi phương diện của đời sống xã hội.
          2.2.2. Dân chủ và quản lý xã hội trong chế độ xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ gắn kết với nhau cả ở mục tiêu, nội dung, phạm vi, cơ cấu bộ máy tổ chức, phương thức thực hiện.
           a, Xét về bản chất, mục đích:
 Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhấn mạnh quyền tự do, quyền làm chủ của mọi người dân trên các phương diện của đời sống xã hội. Mọi người dân được quyền thảo luận, bàn bạc và quyết định mọi vấn đề của xã hội; dân chủ được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp hoặc hình thức dân chủ đại diện. Quan hệ xã hội của dân chủ là quan hệ bình đẳng. Mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước những vấn đề phát triển của xã hội. Mọi người dân có quyền bình đẳng cho việc đóng góp sức lực, trí tuệ, tài năng của mình vào các lĩnh vực phát triển của xã hội. Mọi người dân có quyền bình đẳng và có cơ hội như nhau cho sự phát triển của chính cá nhân.
Quản lý xã hội nhấn mạnh quyền lực của các tổ chức bộ máy quản lý xã hội tới các vấn đề của xã hội. Trong đó mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng bị quản lý là mối quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo; chỉ huy và phục tùng. Quan hệ của quản lý xã hội mang tính thứ bậc. Chủ thể quản lý là người ra các quyết định quản lý; tổ chức cho các đối tượng thực thi quyết định đó và giám sát, kiểm tra việc thực hiện các quyết định đó. Đối tượng bị quản lý là người thực thi các quyết định đó.
Như vậy khi nói đến dân chủ là nói đến mối quan hệ bình đẳng của mọi người dân, còn nói đến quản lý xã hội là nói đến mối quan hệ giữa chỉ huy và phục tùng. Điều này cho thấy sự khác nhau về bản chất của quan hệ xã hội giữa dân chủ và quản lý xã hội. Tuy nhiên, cơ chế quản lý xã hội muốn phát huy được hiệu quả đích thực lại cần thiết phải mở rộng, phát huy được vấn đề dân chủ.
Tuy có sự khác nhau giữa dân chủ và quản lý xã hội như đã trình bày, song về bản chất, dân chủ XHCN và quản lý xã hội trong chế độ XHCN lại có bản chất giống nhau. Đó đều là một phạm trù xã hội của chế độ XHCN, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản lý của Nhà nước và đều phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mục đích của nền dân chủ xã hội XHCN chính là xây dựng, mở rộng và phát huy tối đa quyền làm chủ của mọi người dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục đích của quản lý xã hội XHCN là huy động được trí tuệ, tiềm năng của mọi lực lượng xã hội tham gia vào quá trình quản lý trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
          Như vậy mục đích của dân chủ XHCN và mục đích của quản lý xã hội trong chế độ xã hội XHCN luôn thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhạu. Dân chủ và quản lý xã hội dưới chế độ XHCN đều có chung mục tiêu là giải phóng toàn bộ thể chất và năng lực của con người, thông qua đó thúc đẩy toàn bộ xã hội và cá nhân phát triển toàn diện. Dân chủ và quản lý xã hội ở nước ta đề nhằm mục tiêu xây dựng xã hội XHCN ở Việt nam phát triển ổn định, bền vững như Văn Kiện Đại Hội Đảng lần thứ XI đã chỉ rõ: “ Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…”⃰  (ĐCSVN, Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI  T 70) 
          b, Xét về nội dung và phương thức thực hiện:
Nội dung của vấn đề dân chủ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dưới chế độ xã hội XHCN, mọi người dân có quyền và nghĩa vụ tham gia đóng góp và quyết định những vấn đề trọng yếu của xã hội từ lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…. Để thực hiện quyền và nghĩa vụ đó, có thể thông qua hình thức dân chủ trực tiếp hoặc hình thức dân chủ đại diện.
Nội dung quản lý xã hội cũng được thực hiện trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội. Thông qua các cơ quan quản lý xã hội cụ thể. Mỗi cơ quan quản lý xã hội lại có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi cụ thể. Những cơ quan quản lý xã hội dưới chế độ XHCN đều do nhân dân bầu ra thông qua các hình thức trực tiếp hoặc đại diện. Tuy nhiên, từng bộ máy quản lý xã hội lại có những nội dung, phương thức quản lý xã hội cụ thể. Quản lý Nhà nước XHCN đối với mọi lĩnh vực phát triển của xã hội là một phương thức quản lý cao nhất.
Trong phạm vi của chuyên đề xin đề cập tới các nội dung, phương thức thực hiện dân chủ và quản lý Nhà nước đối với một số lĩnh vực chủ yếu sau:
* Dân chủ và quản lý Nhà nước về kinh tế:
Nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó vừa mang tính chất chung đó là “tính kinh tế thị trường”, vừa mang tính đặc thù là “tính định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Dân chủ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu đó là mọi công dân, mọi thành phần kinh tế có quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng trong việc đóng góp và thực hiện việc xây dựng, phát triển kinh tế ổn định, bền vững của cá nhân, tổ chức kinh tế của mình và của toàn xã hội. Như vậy vấn đề dân chủ ở đây được xác định là mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền lợi và có nghĩa vụ, trách nhiệm như nhau đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế của đất nước. Đảng, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế, các công dân làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội. Đảng, Nhà nước có đường lối, chủ trương, luật pháp và chính sách, kế hoạch, các công cụ  và tạo môi trường thuận lợi để mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế tham gia xây dựng kinh tế, phát triển đất nước đem lại lợi nhuận cho mình và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay được thể hiện trên những vấn đề chủ yếu là:
- Nhà nước cần thực hiện tốt các chức năng quản lý kinh tế, đó là:
+ Định hướng sự phát triển của nền kinh tế. Phạm vi của định hướng sự phát triển kinh tế bao gồm nhiều vấn đề: định hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế; định hướng sự phát triển của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế. Nội dung định hướng sự phát triển nền kinh tế bao gồm: Xác định mục tiêu chung, dài hạn trong vài chục năm hoặc có thể xa hơn; xác định mục tiêu trong từng thời kỳ (chiến lược, kế hoạch phát triển 5 năm, hàng năm…); xác định thứ tự ưu tiên các mục tiêu; xác định các giải pháp thực hiện mục tiêu. Công cụ để thực hiện định hướng phát triển nền kinh tế đó là: chiến lược phát triển kinh tế; quy hoạch phát triển kinh tế; kế hoạch phát triển kinh tế; các chương trình, các dự án phát triển kinh tế.
+ Tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế. Môi trường cho sự phát triển kinh tế là tổng thể các yếu tố, các điều kiện khách quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài. Có mối liên hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phát triển kinh tế. Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vấn đề này, nhà nước phải tập trung xây dựng các môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường dân số, sinh thái, kỹ thuật, môi trường quốc tế… đảm bảo cho các môi trường đó thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.
+ Điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế. Điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế là nhà nước sử dụng quyền năng chi phối của mình lên các hành vi kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến các quá trình hoạt động kinh tế, ràng buộc chúng phải tuân thủ các quy tắc hoạt động kinh tế đã định sẵn nhằm bảo đảm cho sự phát triển bình thường của nền kinh tế. Hoạt động điều tiết nền kinh tế của nhà nước tập trung vào cácn nội dung cơ bản là: điều tiết các quan hệ lao động sản xuất; điều tiết các quan hệ phân bố các nguồn lực; điều chỉnh các quan hệ phân chia lợi ích và quan hệ phân phối thu nhập. Để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trong việc điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế, đòi hỏi Nhà nước ta cần thực hiện tốt các vấn đề chính là: Xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách với công cụ tác động của chính sách như: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách thương mại….; Bổ sung hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế trong những lĩnh vực cần thiết như cho những ngành, những lĩnh vực tư nhân không được làm hoặc không làm được hoặc không muốn làm. Hỗ trợ công dân lập nghiệp kinh tế như: xây dựng các ngân hàng đầu tư ưu đãi, xây dựng, thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm sản xuất, kinh doanh, thực hiện các chương trình bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho người dân, thực hiện hỗ trợ pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật cần thiết…
+ Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế. Nội dung của kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tập trung vào các vấn đề chính là: kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật, kế hoạch của Nhà nước về kinh tế; kiểm tra, giám sát việc sử dụng các nguồn lực của đất nước, kiểm tra, giám sát việc xử lý chất thải, bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, kiểm tra, giám sát các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chức năng và việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước về kinh tế. Để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát cần chú ý tăng cường chức năng giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp; Tăng cường chức năng kiểm tra của Viện Kiểm sát nhân dân, các cấp Thanh tra của Chính phủ và của Ủy ban nhân dân các cấp; Nâng cao tinh thần trách nhiệm của Những người lãnh đạo Nhà nước: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tưởng Chính phủ…; Nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân, của các tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan ngôn luận đối với hoạt động kinh tế; Hoàn thiện hệ thống văn bản kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế…..
- Nhà nước cần thực hiện tốt nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, bao gồm: Tổ chức tốt bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế; Thực hiện tốt việc xây dựng phương hướng mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; Xây dựng hoàn thiện các văn bản pháp luật kinh tế đồng bộ, hợp lý; Tổ chức tốt hệ thống các doạnh nghiệp; xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng cho mọi hoạt động kinh tế; kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các đơn vị kin tế; thực hiện và bảo vệ lợi ích của xã hội, của Nhà nước, của công dân…
Từ sự phân tích nội dung, phương thức dân chủ và quản lý kinh tế của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên đây chúng ta thấy rõ tính độc lập tương đối và tính thống nhất chặt chẽ giữa dân chủ và quản lý xã hội trên lĩnh vực kinh tế ở nước ta hiện nay. Do đó một mặt, trong thực hiện vấn đề dân chủ đối với lĩnh vực kinh tế của đất nước, chúng ta cần tăng cường quản lý Nhà nước và quản lý của các tổ chức bộ máy, các cơ quan đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước; mặt khác trong quản lý kinh tế chúng ta cũng cần hết sức chú trọng tới phát huy, mở rộng dân chủ trên tất cả các lĩnh vực, các quá trình, các hoạt động kinh tế của đất nước.
* Dân chủ và quản lý xã hội về chính trị:
Chế độ chính trị mà chúng ta xây dựng là chế độ xã hội chủ nghĩa, đó là phù hợp với quy luật tiến hóa của lịch sử. Dân chủ và quản lý xã hội về chính trị hiện nay có nội hàm rất rộng. Trong đó về thực chất thực hiện dân chủ về chính trị và quản lý Nhà nước trên lĩnh vực chính trị của đất nước ta hiện nay chính là tập trung xây dựng hệ thống chính trị XHCN vững mạnh bao gồm các nội dung chính là:
Mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. cần tập trung xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm cho dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mọi cấp, mọi lĩnh vực. Mở rộng dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ cương, kỷ luật và được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền của công dân, chăm lo cho sự phát trển của công dân. Nhân dân thực hiện quyền dân chủ về chính trị thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh công nông và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN.
Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân vững mạnh. Mặt trận Tổ quốc Việt nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Các đoàn thể nhân dân tùy theo tính chất, tôn chỉ và mục đích xác định có chức năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhân dân, vận động giáo dục, tổ chức cho nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Đảng Công sản Việt nam là Đảng cầm quyền, một bộ phận trong hệ thống chính trị XHCN, là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN, lãnh đạo đất nước trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Phải tập trung xây dựng Đảng vững mạnh thực sự đủ bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo.
 Để thực hiện dân chủ và quản lý xã hội về chính trị hiện nay, Đảng, Nhà nước cần thực hiện tốt một số vấn đề chính là: Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong suốt tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. Bảo vệ, phát triển và hiện thực hóa nền tảng tư tưởng của xã hội đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bám sát sự phát triển của cách mạng, phân tích khoa học những vấn đề lý luận, thực tiễn thường xuyên có đường loiis, chủ trương lãnh đạo sát đúng với thực tiễn. xây dựng môi trường chính trị, kinh tế, xã hội tích cực, ổn định cho sự phát triển của đất nước. tăng cường xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị xã hội….
Từ sự phân tích nội dung, phương thức dân chủ và quản lý về chính trị trên đây cho thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủ và quản lý xã hội trên lĩnh vực chính trị ở nước ta hiện nay. Do đó một mặt, trong thực hiện vấn đề dân chủ đối với lĩnh vực chính trị của đất nước, chúng ta cần tăng cường quản lý xã hội, tăng cường kỷ luật, kỷ cương với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; mặt khác trong quản lý xã hội về chính trị, chúng ta cũng cần hết sức chú trọng tới phát huy, mở rộng dân chủ trên tất cả các lĩnh vực, các quá trình, các hoạt động chính trị của đất nước.
* Dân chủ và quản lý xã hội về văn hóa:
Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng hiện nay là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ. thực hiện dân chủ và quản lý xã hội trên lĩnh vực văn hóa cần chú ý thực hiện tốt một số tư tưởng chỉ đạo chính là:
- Xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt nam gắn bó chặt chẽ với các vấn đề về chính trị, về xây dựng, phát triển kinh tế. Toàn bộ các lĩnh vực đó phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, sự quản lý của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
- Bảo đảm dân chủ, tự do cho mọi sự sáng tạo và hoạt động văn hóa theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với chuẩn mực giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
- Bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc gắn với mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm giàu, đẹp thêm văn hóa Việt Nam; khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo cái mới, cái tiên tiến. Bảo đảm sự thống nhất và đa dạng của văn hóa các dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam.
- Nâng cao tính tư tưởng, tính chiến đấu của các hoạt động văn hóa nghệ thuật, đấu tranh chống lại những luận điệu độc hại của các thế lực thù địch. Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa…, song cần chú ý chống khuynh hướng “thương mại hóa”.
Những tư tưởng chủ đạo trong xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay đã phản ánh rõ mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội trên lĩnh vực này. Do đó cần tăng cường mở rộng dân chủ, đi liền với tăng cường quản lý xã hội đối với lĩnh vực văn hóa.
* Dân chủ và quản lý xã hội về quốc phòng, an ninh:
Đây là một nội dung quan trọng thể hiện sự gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội hiện nay.
Nền quốc phòng- an ninh của chúng ta là nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh nhân dân là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹ lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Mục tiêu, nhiệm vụ đó vừa là sự thể hiện gắn kết chặt chẽ giữa mở rộng dân chủ XHCN và tăng cường quản lý xã hội XHCN đối với lĩnh vực này. Đồng thời để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng – an ninh của đất nước ta hiện nay càng cần thiết phải mở rộng, phát huy dân chủ XHCN và tăng cường quản lý của xã hội đối với lĩnh vực này.
          Thứ ba, xây dựng, mở rộng, phát huy dân chủ XHCN gắn với tăng cường quản lý xã hội XHCN hiện nay là một nội dung trọng tâm cho việc xây dựng xã hội phát triển ổn định, bền vững, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
          Dân chủ và quản lý xã hội hiện nay là hai mặt của một vấn đề, chúng có tác động qua lại thống nhất biện chứng với nhau, chúng vừa đặt ra yêu cầu đòi hỏi lẫn nhau, vừa tác động bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Dân chủ XHCN và quản lý xã hội XHCN ở nước ta hiện nay tác động đan xen với nhau. Mỗi bước đi thực hiện tăng cường dân chủ XHCN cũng chính là thực hiện tăng cường quản lý xã hội trong chế độ XHCN ở nước ta và ngược lại. Sự gănns kết chặt chẽ của dân chủ và quản lý xã hội trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực hiện tốt vấn đề xây dựng, mở rộng, phát huy dân chủ XHCN gắn với tăng cường quản lý xã hội XHCN hiện nay là một mục tiêu, một nhiệm vụ, một nội dung trọng tâm cho việc xây dựng xã hội phát triển ổn định, bền vững, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Do đó trong nhận thức và hành động thực tiễn đòi hỏi các cấp, các ngành và toàn thể xã hội phải thực hiện cho tốt vấn đề này theo vị trí, chức năng, mục đích của từng tổ chức, từng cá nhân. Chóng mọi biểu hiện tách dời hai mặt dân chủ và quản lý xã hội hiện nay.
          3. Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội của đất nước ta hiện nay
          - Nâng cao nhận thức cho các chủ thể, các lực lượng trong toàn xã hội về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dân chủ và quản lý xã hội trong mọi hoạt động của các tổ chức, các lực lượng của toàn xã hội hiện nay.
          - Xây dựng và ban hành các văn bản pháp lý đồng bộ chặt chẽ làm công cụ để thực hiện tăng cường mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội của đất nước ta hiện nay.
          - Đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện vấn đề mở rộng, phát huy dân chủ XHCN và tăng cường quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (bao gồm: từ khâu xây dựng bộ máy, xác định chính xác cơ chế hoạt động, xây dưungj kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và điều chỉnh việc thực hiện đó) trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
          - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh quá trình thực hiện mở rộng, phát huy phát huy dân chủ XHCN và tăng cường quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
          1. Nguyễn Văn Dân, Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2008.
          2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, HN 2010.
          3. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2008
          4. Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, HN, 2010.
          5. Học viện Hành chính, Quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, HN 2009.
          6. Harold Koontz – Cyril O’donnell – Heinz Weihrich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, (Bản dịch của Vũ Thiếu, Nguyễn Mạnh Quân, Nguyễn Đăng Dậu) Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 1992.
          7. Nguyễn Mạnh Kháng, Một số vấn đề lý luận về quản lý xã hội trong những tình huống bất thường, Nxb Tư pháp, HN 2009.
          8. Đinh Xuân Lý (Chủ biên), Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2010.
          9. Song Thành, Hồ Chí Minh Nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2010.
          10. Võ Hào Quang, Xã hội học quản lý, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002.
          11. Lê Minh Quân, Hòa bình - Hợp tác và phát triển xụ thế lớn trên thế giới hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2010.
          12. Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý, Nguyên lý quản lý, NXB Lao động & Xã hội, HN, 2007.






Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp



Tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp 
Bắc Ninh, 11/10 /2013
Đại tá, TS Nguyễn Văn Chung
Kính thưa Anh linh Đại tướng Võ Nguyên Giáp!

Chúng cháu vô cùng vinh dự và tự hào được là lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Một đội quân đã có gần 70 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành. Lịch sử phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam là lịch sử của những chiến công oanh liệt gắn liền với sự quan tâm, chăm lo, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo, dìu dắt của Người Anh Cả thân yêu, vị Tổng tư lệnh - Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam trước đây, hôm nay và mai sau vẫn luôn ghi đậm trong trái tim mình hình ảnh của “Anh Văn”. Một Tổng tư lệnh của các tư lệnh, chính ủy của các chính ủy, với tư duy chiến lược sắc xảo, với phong cách dân chủ và quyết đoán trong chỉ đạo thay đổi phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc” để chỉ huy đoàn quân quyết chiến, quyết thắng làm nên một Điện Biên Phủ - “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; một Đại tướng trong thời khắc lịch sử quan trọng đã có những chỉ đạo quyết đoán, nhanh nhạy, kịp thời với mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng” để kịp thời chỉ đạo các cánh quân thần tốc tiến về Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Chúng ta cũng không thể nào quên hình ảnh gần gũi, thân thuộc của một vị Đại tướng giàu lòng nhân văn, tình thương yêu và rất mực gần gũi, quan tâm đến từng chiến sĩ, biết đau với nỗi đau và sự hy sinh của từng chiến sĩ. Chúng ta cũng không thể nào quên hình ảnh của một Người lính cụ Hồ nhiệt huyết, tận lực, tận tâm, luôn trăn trở và cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì sự phát triển của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.
Thật vinh dự và tự hào cho tất cả chúng ta là cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ đang được công tác, học tập, rèn luyện và trưởng thành dưới mái trường Sĩ quan Chính trị thân yêu. Một mái trường luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chúng ta mãi khắc ghi trong khối óc và con tim của mình về hình ảnh thân mật, đôn hậu và sự quan tâm chỉ bảo ân cần của Đại tướng khi về thăm Nhà trường ngày 17/12/1992 nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Ngày Hội quốc phòng toàn dân. Lời căn dặn của Đại tướng “Phát huy truyền thống vẻ vang của lực lượng vũ trang, phấn đấu trở thành một trường đào tạo sĩ quan gương mẫu toàn diện của quân đội ta” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, phương châm và là nguồn cổ vũ, khích lệ tinh thần lớn lao trực tiếp góp phân xây dựng ý chí và quyết tâm hành động của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Nhà trường hôm nay và mai sau trong quá trình xây dựng Trường Sĩ quan Chính trị thực sự chính quy, tiên tiến, mẫu mực.
Kính thưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp!
Thấm nhuần lời dạy của Đại tướng, với ý thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao trước Đảng và Quân đội, trong những năm qua, với sự đoàn kết nhất trí, các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên nhân viên, chiến sĩ toàn Trường đã không ngừng thi đua đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, kiên trì và vận dụng sáng tạo các quan điểm giáo dục của Đảng, của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng vào thực tiễn giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học. Bám sát thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của Đảng, của Quân đội, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội, giáo viên Khoa học xã hội nhân văn quân sự cho các nhà trường và đơn vị trong toàn quân.
Trong giờ phút thiêng liêng này, chúng ta tưởng nhớ về Đại tướng, về lời căn dặn của Người đối với Nhà trường. Chúng ta nguyện đồng tâm, hiệp lực, chủ động, sáng tạo vượt qua những khó khăn, phấn đấu xây dựng Nhà trường vững mạnh toàn diện, đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội vừa hồng, vừa chuyên tích cực tham gia xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, thực sự là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, viết tiếp trang sử vàng hào hùng của dân tộc, quân đội, xứng đáng với niềm tin yêu, hy vọng của lớp lớp các anh hùng giải phóng dân tộc, anh hùng liệt sĩ, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Trước anh linh của Đại tướng, trong giờ phút đau thương này, chúng ta bày tỏ lòng tiệc thương vô hạn trước sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của Đại tướng. Chúng ta nguyện khắc sâu công lao to lớn của Người và xin hứa trước Đại tướng kính yêu, sẽ luôn phấn đấu, trưởng thành, giữ vững bản lĩnh và nhiệt huyết cách mạng, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi phẩm chất nhân cách của người cộng sản, của Bộ đội Cụ Hồ; thực hiện và noi theo tấm gương mẫu mực luôn “Dĩ công vi thượng” của Đại tướng để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ, cống hiến nhiều hơn nữa cho Đảng, Tổ quốc, nhân dân, cho Quân đội và Nhà trường.
Xin kính cẩn nghiêng mình trước Anh linh của Đại tướng!
         

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ HIỆN NAY


          Luật giáo dục của nước ta khi đề cập đến mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đại học, đã chỉ rõ: “ Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo” [1].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra mục tiêu, phương hướng cơ bản cho sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo của đất nước ta hiện nay là: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành”[2].

QUÁN TRIỆT CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG ĐỔI MỚI NỘI DUNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY



          1. Những quan điểm cơ bản về giáo dục, đào tạo trong Văn kiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra những quan điểm cơ bản cho sự nghiệp phát triển giáo dục- đào tạo của đất nước ta hiện nay, bao gồm các quan điểm chính:
          Một là, tiếp tục khẳng định rõ sứ mệnh, mục tiêu, vai trò của giáo dục, đào tạo: “ Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”[1].
          Hai là,  Đại hội đã khẳng định phải: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành”[2].

Ba là, Đại hội cũng đã chỉ rõ: “ Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục…Tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện hợp lý cơ chế tự chủ đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với đổi mới cơ chế tài chính. Làm tốt công tác xây dựng, quy hoạch, kế hoạch phát triển, quản lý mục tiêu, chất lượng giáo dục, đào tạo. Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo. Tổ chức xếp hạng cơ sở giáo dục, đào tạo. Tăng cường công tác thanh tra; kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục, đào tạo” [3].
Bốn là, Đại hội đã chỉ rõ: “ Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [4].
Hệ thống các quan điểm đó là một chỉnh thể hoàn chỉnh có vai trò định hướng, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp xây dựng, phát triển nền giáo dục của nước ta. Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp căn bản hết sức quan trọng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; góp phần đắc lực vào thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển giáo dục- đào tạo, đòi hỏi tất cả các lực lượng của toàn xã hội cần quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả toàn bộ các quan điểm trên với một tinh thần trách nhiệm chính trị cao với sự quyết tâm, đồng thuận lớn; trong đó bản thân ngành giáo dục phải là lực lượng nòng cốt.