MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
1. Dân chủ và quản lý xã
hội là những vấn đề tất yếu trong sự phát triển của xã hội. Tùy theo trình độ
phát triển của xã hội mà những vấn đề này được xem xét, giải quyết với những
nội dung, tính chất và mức độ khác nhau. Tuy nhiên trong bất kỳ một xã hội nào
cũng cần thiết phải giải quyết cho được vấn đề dân chủ và vấn đề quản lý xã hội
phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, tư tưởng, xã hội của sự phát
triển xã hội thời kỳ đó. Dân chủ và quản lý xã hội là hai vấn đề tưởng chừng
như đối lập và trái ngược nhau, nhưng thực chất chúng có mối quan hệ hết sức
mật thiết với nhau; mỗi bước tăng cường, mở rộng và phát huy dân chủ lại là một
nội dung, biện pháp tăng cường và nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý xã hội. Ngược
lại sự tăng cường quản lý xã hội cũng chính là hình thức, biện pháp và nội dung
của việc tăng cường dân chủ. Do đó luận giải thực chất mối quan hệ dân chủ và
quản lý xã hội, tìm ra được sự khác biệt và sự thống nhất của hai vấn đề này có
ý nghĩa rất quan trọng cho việc phát huy được sức mạnh của cả vấn đề dân chủ và
vấn đề quản lý xã hội, tạo động lực cho quá trình xây dựng, phát triển của xã
hội hiện nay. Đồng thời sẽ cung cấp những luận chứng khoa học cho việc xây dựng
mô hình quản lý xã hội, phát huy dân chủ; đấu tranh với những nhận thức, tư
tưởngvà hành động sai trái.
2.
Trong bối cảnh phát triển của xã hội hiện đại, xu thế toàn cầu hóa và những vấn
đề hiện thực xã hội đã và sẽ xuất hiện đang đặt ra rất nhiều thách thức cho mỗi
quốc gia, dân tộc. Để đảm bảo cho đất nước, xã hội phát triển bền vững, mỗi
quốc gia, dân tộc phải giải quyết rất nhiều vấn đề, trong đó một mặt phải tăng
cường quản lý xã hội, quản lý sự phát triển của xã hội; mặt khác phải mở rộng
và phát huy dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là hai vấn đề
liên quan hết sức mật thiết với nhau, nhưng đó lại là vấn đề khá nhạy cảm trong
xã hội hiện nay. Trong thực tế, vẫn còn tồn tại những nhận thức và hành động
thực tiễn chưa đúng về vấn đề này. Còn có quan niệm cho rằng tăng cường quản lý
xã hội sẽ dẫn đến hạn chế việc phát huy dân chủ và ngược lại mở rộng và phát
huy dân chủ sẽ ảnh hưởng đến việc duy trì và tăng cường quản lý xã hội. Trong
bối cảnh đó, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề dân chủ và những yếu kém
trong quản lý xã hội của những nước đang phát triển để thực hiện những âm mưu
chống phá các nước có đường lối phát triển không có lợi cho chúng. Đất nước
Việt Nam đang thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng
lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XI đã đặt ra. Việt Nam
đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, những biến động của thế giới
hàng ngày đều tác động tới Việt Nam.
Trong điều kiện đó để thực hiện tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI, gần
đây là thực hiện Nghị quyết Trung ương ba khóa XI về việc thay đổi mô hình tăng
trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, đòi hỏi chúng ta cần giải quyết nhiều vấn đề,
trong đó phải gắn việc mở rộng, phát huy dân chủ với tăng cường quản lý xã hội
được đặt ra như là yêu cầu hết sức trọng yếu.
1. Tổng quan về mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội
trong lịch sử phát triển của xã hội
* Quan niệm về dân chủ:
Thuật ngữ dân chủ bắt
nguồn từ tiếng Hy Lạp δημοκρατία - có nghĩa là “the power to the people”: “Quyền Lực Của Nhân Dân”, thuật ngữ này
được kết hợp bởi căn ngữ δῆμος (dêmos) tức là nhân dân và κράτος (krátos) tức
là quyền lực hoặc chính phủ. Thuật ngữ dân chủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 đến thứ 4
trước Công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy Lạp,
nổi bật nhất là Anthena sau cuộc nổi dậy
của dân chúng vào năm 508 TCN. Như vậy, dân chủ là một thuật ngữ
đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử phát triển của nhân loại. Đến nay thuật
ngữ này được sử dụng phổ biến và rất quen thuộc. Nhưng cũng có nhiều người hiểu
chưa đúng thực chất. Trên thực tế nó đã bị một số phần tử lợi dụng mác dân chủ để
phục vụ cho những mục đích và ý đồ đen tối. Điều này dẫn đến những quan
niệm sai trái cả về mục đích cũng như những nội dung cốt lõi của vấn đề dân
chủ.
Trong lịch sử tư tưởng
nhân loại, bản thân khái niệm dân chủ từng được sử dụng, vừa tuỳ thuộc vào
những bối cảnh xã hội khác nhau, lại vừa dựa trên những căn cứ khác nhau. Chẳng
hạn, với Platon, dân chủ là hiện tượng hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực, bởi vì
“quyền lực thuộc về nhân dân” tất yếu sẽ dẫn tới chỗ dùng bản năng thay cho lí
trí chính trị. Aristotle cho rằng, về nguyên tắc, quyền lực số đông có thể chứa
thiện căn (giống như “quyền lực của một người” dưới chế độ chuyên chế và “quyền
lực thiểu số” trong giới quý tộc cũng có thể chứa thiện căn như thế). Nhưng, ta
biết, Aristotle gọi “quyền lực số đông” chứa thiện thiện căn như thế là chính
thể, còn dân chủ chỉ là bản sao đã bị xuyên tạc của nó, thứ bản sao (khác với
bản gốc) không có khả năng giữ được vị trí ưu tiên hàng đầu của cả nước và tự
hạ thấp xuống mức biểu hiện tổng số lợi ích của những người nghèo khó”. Về phần
mình, Hobbes sẵn sàng thừa nhận sự thích hợp của thuật ngữ dân chủ, thậm chí,
thừa nhận nội dung đích thực của những hiện tượng ở phía sau thuật ngữ ấy (loại
nhà nước trong đó chủ quyền tối cao tập trung một cách tuyệt đối vào tập hợp
của những ai tán thành nó), nhưng theo ông, hình thức ưu việt không thể chối
cãi có thể chung đúc chủ quyền toàn vẹn nói trên chính là nhà nước chuyên chế.
Cuối cùng, Rousseau xem dân chủ là phương thức đúng đắn duy nhất để hiện thực
hoá ý chí tập thể, nhưng ông cũng thừa nhận, bản thân ý chí tập thể này mang
tính đồng nhất và không thể chia tách.
Cùng với sự phát triển
của lịch sử xã hội, tư tưởng về dân chủ cũng đã được mở rộng, phát triển. Từ
thời của những cuộc cách mạng vĩ đại ở châu Âu (trước hết là cách mạng Pháp),
người ta thừa nhận, dân chủ nằm trong hệ thống chủ đề về sự bình đẳng của con
người, đó là sự bình đẳng như là quyền thực thi quyền lực ngang nhau của các
công dân. Nói đến dân chủ có hai nguyên tắc quan trọng là: Thứ nhất, là tất cả mọi
thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách
bình đẳng; Thứ hai, tất cả
mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng
rãi. Điều này có liên quan đến thậu ngữ chủ quyền nhân dân.
Tại một số quốc gia, dân chủ dựa trên nguyên tắc về quyền bình đẳng. Nhiều
người sử dụng thuật ngữ "dân chủ" như một cách nói tắt của dân chủ tự do, còn bao gồm thêm một số yếu tố như đa nguyên chính trị, sự
bình đẳng trước pháp luật, quyền kiến nghị các viên
chức được bầu nếu cảm thấy bất bình, thủ tục tố tụng, quyền tự do công dân, quyền con người, và những yếu tố của xã hội dân sự độc lập với nhà nước. Tại Hoa Kỳ, tam quyền phân lập thường được xem là đặc tính
hỗ trợ cho dân chủ, nhưng ở các quốc gia khác, như Vương quốc Anh, triết lý chi
phối lại là chủ quyền tối
cao của nghị viện (mặc dù trên thực tế vẫn duy trì sự độc lập tòa án). Trong các
trường hợp, "dân chủ" được dùng với nghĩa dân chủ trực tiếp. Mặc dù thuật ngữ "dân
chủ" thường được dùng trong bối cảnh chính trị của quốc gia,
những nguyên lý này cũng áp dụng cho các tổ
chức cá nhân và các nhóm khác.
Chúng tôi cho rằng cần
tiếp cận vấn đề dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Từ đó có thể hiểu, về thực chất
dân chủ chính là quyền lực của nhân dân, quền làm chủ của nhân dân đối với mọi
lĩnh vực của xã hội. Quyền lực đó được thực hiện thông qua chính phủ của dân,
do dân và vì dân; Nói cách khác, dân chủ“là
chính phủ được thành lập bởi nhân dân trong đó quyền lực tối cao được trao cho
nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc bởi các đại diện được bầu ra từ
một hệ thống bầu cử tự do”. Vấn đề dân chủ được hiểu trên các khía cạnh chính là:
Thứ nhất, Dân chủ là một giá trị tiến bộ của xã hội, là mơ ước, khát vọng của con
người.
Thứ hai, Dân chủ về thực chất là quyền làm chủ, quyền bình đẳng của mọi người dân
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó gắn liền với những điều kiện lịch sử
- xã hội nhất định. Việc mở rộng quyền dân chủ đến đâu là do tùy thuộc vào từng
điều kiện hoàn cảnh nhất định. Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp,
dân chủ phụ thuộc vào mục tiêu, lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Thứ ba, Vấn đề dân chủ luôn liên quan mật thiết đến vấn đề quản lý xã hội của hệ
thống chính trị của mỗi nước, mỗi thời kỳ. Dân chủ và quản lý xã hội là hai
phạm trù có sự khác biệt song có thống nhất chặt chẽ với nhau.
Thứ tư, Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bước tiến bộ cao nhất, đó là nền dân chủ cho
mọi người dân. Dưới CNXH, mọi người dân có điều kiện, khả năng để thực hiện
quyền làm chủ của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là nền
dân chủ mà người dân thực hiện quyền làm chủ của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản, sự quản lý của Nhà nước XHCN. Đảng cộng sản và nhà nước XHCN coi việc
xây dựng, phát huy quyền làm chủ của mình trên mọi phương diện của đời sống xã
hội vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, vừa là động lực của tiến trình cách mạng
XHCN.
* Quan niệm về quản lý
Quản
lý ra đời gắn liện với hoạt động chung của nhiều người trong xã hội như Mác
nói: “Mọi người lao động trực tiếp trong
xã hội hoặc lao động chung thực hiện trên quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều
hoặc ít đều cần đến quản lý” C.Mác – Ăng ghen Toàn tập, tập 23, trang 34,
Nxb Sự thật, HN, 1963). Như vậy, quản lý ra đời là yêu cầu tất yếu đối với sự
phát triển của xã hội.
Quản lý là một thuật ngữ đa nghĩa, đa cấp, nó được định dạng
khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác
nhau, đã có những cách định nghĩa về quản lý khác nhau. Có thể đề cập đến một
số cách định nghĩa sau:
Theo F.W.Taylor: quản lý
là: " biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng
họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất, kinh tế nhất ". Henry Fayel:
"Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ)
đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh
và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh
và kiểm soát”. Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường
tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". Peter F
Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở
nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả;
quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Peter. F. Dalark: "Định
nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý
bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý
công việc và nhân công".
Có thể kể ra nhiều ý kiến
khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại
diện. Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng chưa đầy đủ.
Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ
bản chất của nó. Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi,
đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động. Tiếp theo cần có
mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành
nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người
quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần
xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có
được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Đồng thời cần chú ý
rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần
được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó. Với những phân
tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ bản sau cấu thành: Chủ
thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý? Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý
cái gì? Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì? Môi trường và
điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào? Có thể đưa ra
kết luận rằng: Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, nó là sự kết hợp của 3
phương diện: Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân.
Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên. Thứ
ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc
mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá
trị cá nhân - giá trị tập thể. Trong xã hội ngày nay, ở đâu chúng ta có thể
nhìn thấy lãnh đạo. Mỗi quốc gia đều có Đảng cầm quyền và Chính phủ lãnh đạo;
các doanh nghiệp đều có chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch điều hành, tổng
giám đốc, giám đốc bộ phận lãnh đạo. Ngay cả các tổ chức phi chính phủ cũng có
người đứng đầu có quyền uy lãnh đạo các thành viên trong tổ chức. Trong cuộc
sống thực tế, không ít người cho rằng lãnh đạo và quản lý là cũng một khái
niệm, giữa chúng không có gì khác nhau, quá trình lãnh đạo gần như chính là quá
trình quản lý. Song thực ra, giữa chúng có sự khác biệt và cũng có liên quan
với nhau. Những nhà quản lý học có những quan điểm khác nhau về định nghĩa lãnh
đạo, nhưng nội dung bản chất là giống nhau. Họ đều cho rằng lãnh đạo là người
dẫn dắt cấp dưới thực hiện mục tiêu của tổ chức. Quản lý và lãnh đạo đều có mục
đích là thực hiện mục tiêu của tổ chức, nhưng chúng có điểm khác biệt rõ rệt
như sau: Lãnh đạo là một chức năng của quản lý, thường được gọi là chức năng
lãnh đạo, còn chức năng khác của quản lý lại không phải là lãnh đạo. Ví dụ:
công việc mà những người tham mưu trong tổ chức làm là công tác quản lý, nhưng
không phải là công tác lãnh đạo. Quản lý ở đây chỉ hành vi quản lý, công tác
lãnh đạo vừa bao gồm hành vi quản lý, vừa bao gồm hoạt động nghiệp vụ khác.
Thông thường, lãnh đạo chủ yếu là lãnh đạo con người, xử lý quan hệ giữa người
với người, đặc biệt là quan hệ cấp trên và cấp dưới. Đây là vấn đề cốt lõi
trong hoạt động quản lý. Còn về quản lý, ngoài quản lý con người, đối tượng của
quản lý còn bao gồm tài chính, vật chất. Quản lý không chỉ xử lý quan hệ giữa
người với người mà còn phải xử lý mối quan hệ tài chính và vật chất, giữa vật
chất và con người, giữa con người và tài chính. Phạm vi mà quản lý đề cập đến
rộng hơn nhiều so với lãnh đạo. Quản lý và lãnh đạo khác biệt nhau nhưng có
liên quan mật thiết với nhau. Lãnh đạo và quản lý thuộc hai tầng hoạt động khác
nhau song chúng lại có quan hệ mật thiết khó tách rời. Hoạt động lãnh đạo tập
trung vào việc đưa ra quyết sách, xác định mục tiêu, kế hoạch phấn đấu, vạch ra
chính sách tương ứng và phương hướng lãnh đạo khu vực, ban ngành, đơn vị tiến
lên phía trước… Còn quản lý tập trung giữ vững và tăng cường hoạt động của tổ
chức để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu mà lãnh đạo đã xác định. Quản lý được
phân thành nhiều lĩnh vực khác nhau: Quản
lý giới vô sinh (những tài sản vật hóa như ruộng đất, nhà xưởng…); đây là
dạng quản lý cho phép chủ thể tác động trong bất kỳ thời gian, không gian nào
cũng có thể mang lại những hiệu quả nhất định. Quản lý giới sinh vật (những thực thể sống gắn liền với tài sản vật
hóa có chu kỳ sinh trưởng riêng như: cây trồng, vật nuôi…); đây là dạng quản lý
mà chủ thể phải tác động đến đối tượng quản lý dựa vào chu trình sinh trưởng và
phát triển của nó. Quản lý giới xã hội bao
gồm các thực thể có tổ chức, có lý trí kết thành hệ thống chặt chẽ. Đây là dạng
quản lý phức tạp nhất vì đối tượng là con người và tổ chức.
* Quan niệm về quản lý
xã hội và quản lý XHCN.
Quản lý xã hội chính là việc quản lý tổng thể
xã hội hoặc quản lý từng mặt, từng khía cạnh của đời sống xã hội. Đối tượng của
quản lý xã hội chính là xã hội bao gồm: các nhóm, các tổ chức, các thiết chế xã
hội, cộng đồng xã hội và các lĩnh vực của xã hội; chủ thể của quản lý xã hội
chính là các tổ chức, cá nhân.
Theo tinh thần trên, chúng
tôi cho rằng: quản lý xã hội là những tác
động có ý thức của con người và các tổ chức vào xã hội nhằm sắp xếp, duy trì
toàn bộ các hoạt động của xã hội, để bảo đảm cho xã hội tồn tại và phát triển
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quản
lý xã hội XHCN là một phạm trù thuộc phạm trù quản lý xã hội phát triển. Theo
đó, quản lý xã hội XHCN là hoạt động tự
giác của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản, tác động một cách có mục đích, có kế hoạch vào các lĩnh vực, các yếu
tố, các quá trình xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển ổn
định, bền vững, huy động mọi nguồn lực của xã hội để xây dựng và bảo vệ vững
chắc chế độ xã hội XHCN. Từ cách tiếp cận đó cho thấy:
Chủ
thể quản lý xã hội XHCN là Đảng cộng sản, Nhà nước XHCN, các tổ chức chính trị
xã hội…, nhân dân lao động. Vận hành theo phương thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân lao động làm chủ.
Đối
tượng quản lý xã hội XHCN là các yếu tố, các lĩnh vực, các quá trình xã hội,
các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Ở đây cần nhận thấy việc phân chia chủ thể
và đối tượng quản lý xã hội có tính chất tương đối.
Phạm
vi, nội dung của quản lý xã hội XHCN có phạm vi rất rộng nó bao hàm tất cả các
lĩnh vực, các tổ chức, các cá nhân trong xã hội. Tùy từng lĩnh vực cụ thể mà có
các phương thức quản lý xã hội khác nhau. Nhưng quy trình quản lý xã hội nhìn
chung đều tuân thủ theo các bước: Kế hoạch hóa sự phát triển; tổ chức bộ máy,
có cấu, phương thức vận hành; đưa ra những tác động điều khiển, điều chính,
giám sát, kiếm tra, thu nhận thông tin mới về trạng thái của đối tượng bị quản
lý…
Phương
tiện, công cụ quản lý xã hội XHCN đó là đường lối, chủ trương của Đảng cộng
sản, Hiến pháp, pháp luật, các chính sách của Nhà nước; các tổ chức chính trị,
kinh tế, xã hội… các thể chế xã hội khác như đạo đức, dự luận xã hội….
2. Mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã
hội
2.1.
Mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã
hội trong lịch sử phát triển của nhân loại
Trong
lịch sử phát triển của nhân loại đã trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác
nhau. Tương ứng với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội… quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội cũng được luận giải và tổ
chức thực hiện trên thực tế không đồng nhất với nhau.
Dưới
chế độ cộng sản nguyên thủy, trình độ dân chủ và trình độ quản lý xã hội còn
hết sức thấp kém, mang tính tự phát. Tuy nhiên mọi thành viên trong công xã,
thị tộc đều có quyền, nghĩa vụ tham gia quản lý mọi mặt của công xã, thị tộc
đó. Lúc này, quản lý xã hội và dân chủ quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau
tuy ở mức độ sơ khai.
Sang
thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến; quan hệ dân chủ và quản lý
xã hội được biểu hiện tập trung ở địa vị giai cấp. Dân chủ và quản lý xã hội
chỉ thuộc về tầng lớp chủ nô và các lãnh chúa. Đối với nô lệ và nông dân, là
lực lượng bị áp bức thống trị, bị tước đoạt những quyền cơ bản của con người; họ
không được tham gia vào quản lý xã hội.
Dưới
chế độ tư bản chủ nghĩa vấn đề dân chủ và quản lý xã hội đã có bước phát triển
mới. Tuy nhiên xét về bản chất, dân chủ và quản lý xã hội dưới chủ nghĩa tư bản
chỉ thuộc về số ít người đó là tầng lớp giai cấp tư sản.
Bước
sang giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa tư bản đã có sự điều chỉnh, thích nghi,
nhưng thực tế quyền quản lý xã hội vẫn thuộc về thiểu số, thuộc về những giai
cấp tư sản. Cuộc biểu tình chiếm phố Uôn vừa qua ở Mỹ và đã lan ra một loạt
nước Châu Âu hiện nay đang chứng minh rất rõ vấn đề này. Rõ ràng dưới chế độ
TBCN, dân chủ và quản lý xã hội chứa đựng sự mâu thuẫn, khác biệt khó dung hòa.
Điều này do bản chất của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định.
Dưới chủ nghĩa xã hội xét về bản chất, dân chủ
và quản lý xã hội thống nhất chặt chẽ với nhau - điều này do bản chất của chế
độ xã hội XHCN quyết định. Tuy nhiên giữa chúng vẫn có sự khác biệt ở tính độc
lập tương đối của chúng.
2.2. Mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã
hội xã hội chủ nghĩa
Dân chủ và quản lý xã hội
là hai phạm trù khác biệt, xong giữa chúng lại có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Làm rõ tính độc lập và tính thống nhất của vấn đề dân chủ, chỉ ra bản
chất mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chúng có tác dụng to lớn cho việc
nâng cao tác dụng của cả vấn đề dân chủ và vấn đề quản lý xã hội, thông qua đó
thúc đẩy xã hội vận động, phát triển một cách nhanh chóng, bền vững hơn. Nói
cách khác giải quyết hài hòa, khoa học và nghệ thuật cả vấn đề dân chủ và vấn
đề quản lý xã hội sẽ tạo ra “tính trồi”
mới của cả sức mạnh dân chủ và sức mạnh quản lý xã hội.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa dân
chủ và quản lý xã hội chúng ta cần giải quyết thỏa đáng cả hai phương diện sau:
Thứ nhất, luận giải rõ tính độc lập tương
đối của vấn đề dân chủ và vấn đề quản lý xã hội; Thứ hai, luận giải rõ tính thống nhất giữa dân chủ với quản lý xã
hội. Thực hiện tốt việc luận giải đó sẽ cung cấp những luận chứng khoa học xét
trên cả phương diện lý luận và thực tiễn cho sự tăng cường dân chủ và tăng
cường quản lý xã hội trong chế độ XHCN hiện nay. Sự khác biệt và sự thống nhất
giữa dân chủ và quản lý xã hội trong xã hội XHCN được biểu hiện trong cả bản
chất, nội dung, phương thức tổ chức thực hiện. Mối quan hệ gắn bó giữa dân chủ
và quản lý xã hội được thể hiện trên các vấn đề chính sau:
2.2.1. Dân chủ và quản lý xã hội đều là một phạm trù xã hội,
là sản phẩm của điều kiện lịch sử - xã hội phản ánh trình độ phát triển của xã
hội.
Như vậy, dân chủ và quản
lý xã hội luôn gắn chặt với những điều kiện lịch sử cụ thể, gắn với mục tiêu,
lợi ích của giai cấp cầm quyền trong chế độ xã hội đó. Không thể mơ hồ về cái
gọi là “dân chủ tuyệt đối” cho mọi người trong chế độ chiếm hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất. Nền dân chủ XHCN là nền dân chủ đích thực, Nhà nước XHCN thực sự
là Nhà nước của dân do dân và vì dân. Quản lý xã hội trong chế độ XHCN cũng
phải được thực hiện trên nguyên tắc tối thượng là quản lý nhằm vào mục tiêu
giải phóng toàn bộ sức mạnh của nhân dân, đem lại sự bình đẳng và quyền lực
thực sự cho mọi người dân trên mọi phương diện của đời sống xã hội.
2.2.2. Dân chủ và quản lý xã hội trong chế
độ xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ gắn kết với nhau cả ở mục tiêu, nội dung,
phạm vi, cơ cấu bộ máy tổ chức, phương thức thực hiện.
a, Xét
về bản chất, mục đích:
Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhấn
mạnh quyền tự do, quyền làm chủ của mọi người dân trên các phương diện của đời
sống xã hội. Mọi người dân được quyền thảo luận, bàn bạc và quyết định mọi vấn
đề của xã hội; dân chủ được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp
hoặc hình thức dân chủ đại diện. Quan hệ xã hội của dân chủ là quan hệ bình
đẳng. Mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước những vấn đề phát
triển của xã hội. Mọi người dân có quyền bình đẳng cho việc đóng góp sức lực,
trí tuệ, tài năng của mình vào các lĩnh vực phát triển của xã hội. Mọi người
dân có quyền bình đẳng và có cơ hội như nhau cho sự phát triển của chính cá
nhân.
Quản lý xã hội nhấn mạnh
quyền lực của các tổ chức bộ máy quản lý xã hội tới các vấn đề của xã hội. Trong
đó mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng bị quản lý là mối quan hệ
lãnh đạo và bị lãnh đạo; chỉ huy và phục tùng. Quan hệ của quản lý xã hội mang
tính thứ bậc. Chủ thể quản lý là người ra các quyết định quản lý; tổ chức cho
các đối tượng thực thi quyết định đó và giám sát, kiểm tra việc thực hiện các
quyết định đó. Đối tượng bị quản lý là người thực thi các quyết định đó.
Như vậy khi nói đến dân
chủ là nói đến mối quan hệ bình đẳng của mọi người dân, còn nói đến quản lý xã
hội là nói đến mối quan hệ giữa chỉ huy và phục tùng. Điều này cho thấy sự khác
nhau về bản chất của quan hệ xã hội giữa dân chủ và quản lý xã hội. Tuy nhiên,
cơ chế quản lý xã hội muốn phát huy được hiệu quả đích thực lại cần thiết phải
mở rộng, phát huy được vấn đề dân chủ.
Tuy có sự khác nhau giữa
dân chủ và quản lý xã hội như đã trình bày, song về bản chất, dân chủ XHCN và
quản lý xã hội trong chế độ XHCN lại có bản chất giống nhau. Đó đều là một phạm
trù xã hội của chế độ XHCN, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản
lý của Nhà nước và đều phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân lao động trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mục đích của nền dân chủ
xã hội XHCN chính là xây dựng, mở rộng và phát huy tối đa quyền làm chủ của mọi
người dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục đích của quản lý xã hội
XHCN là huy động được trí tuệ, tiềm năng của mọi lực lượng xã hội tham gia vào
quá trình quản lý trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Như
vậy mục đích của dân chủ XHCN và mục đích của quản lý xã hội trong chế độ xã
hội XHCN luôn thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhạu. Dân chủ và quản lý xã hội
dưới chế độ XHCN đều có chung mục tiêu là giải phóng toàn bộ thể chất và năng
lực của con người, thông qua đó thúc đẩy toàn bộ xã hội và cá nhân phát triển
toàn diện. Dân chủ và quản lý xã hội ở nước ta đề nhằm mục tiêu xây dựng xã hội
XHCN ở Việt nam phát triển ổn định, bền vững như Văn Kiện Đại Hội Đảng lần thứ
XI đã chỉ rõ: “ Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế
phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…”⃰ (ĐCSVN, Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ XI T 70)
b, Xét
về nội dung và phương thức thực hiện:
Nội dung của vấn đề dân
chủ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dưới chế độ xã
hội XHCN, mọi người dân có quyền và nghĩa vụ tham gia đóng góp và quyết định
những vấn đề trọng yếu của xã hội từ lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, quốc phòng, an ninh…. Để thực hiện quyền và nghĩa vụ đó, có thể thông qua
hình thức dân chủ trực tiếp hoặc hình thức dân chủ đại diện.
Nội dung quản lý xã hội
cũng được thực hiện trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội. Thông qua
các cơ quan quản lý xã hội cụ thể. Mỗi cơ quan quản lý xã hội lại có chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi cụ thể. Những cơ quan quản lý xã hội dưới chế độ
XHCN đều do nhân dân bầu ra thông qua các hình thức trực tiếp hoặc đại diện. Tuy
nhiên, từng bộ máy quản lý xã hội lại có những nội dung, phương thức quản lý xã
hội cụ thể. Quản lý Nhà nước XHCN đối với mọi lĩnh vực phát triển của xã hội là
một phương thức quản lý cao nhất.
Trong phạm vi của chuyên
đề xin đề cập tới các nội dung, phương thức thực hiện dân chủ và quản lý Nhà
nước đối với một số lĩnh vực chủ yếu sau:
* Dân chủ và quản lý Nhà nước về kinh tế:
Nền kinh tế của nước ta
là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó vừa mang tính chất
chung đó là “tính kinh tế thị trường”, vừa mang tính đặc thù là “tính định
hướng xã hội chủ nghĩa”.
Dân chủ trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu đó là mọi công dân, mọi thành
phần kinh tế có quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng trong việc đóng góp và thực
hiện việc xây dựng, phát triển kinh tế ổn định, bền vững của cá nhân, tổ chức
kinh tế của mình và của toàn xã hội. Như vậy vấn đề dân chủ ở đây được xác định
là mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền lợi
và có nghĩa vụ, trách nhiệm như nhau đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển
kinh tế của đất nước. Đảng, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế, các
công dân làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, phát huy quyền tự do
kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp
cho xã hội. Đảng, Nhà nước có đường lối, chủ trương, luật pháp và chính sách,
kế hoạch, các công cụ và tạo môi trường
thuận lợi để mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế tham gia xây dựng kinh tế, phát
triển đất nước đem lại lợi nhuận cho mình và đóng góp cho sự phát triển của xã
hội.
Quản lý Nhà nước đối với
lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện
nay được thể hiện trên những vấn đề chủ yếu là:
- Nhà nước cần thực hiện
tốt các chức năng quản lý kinh tế, đó là:
+ Định hướng sự phát
triển của nền kinh tế. Phạm vi của định hướng sự phát triển kinh tế bao gồm
nhiều vấn đề: định hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế; định hướng sự
phát triển của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế. Nội dung định hướng
sự phát triển nền kinh tế bao gồm: Xác định mục tiêu chung, dài hạn trong vài
chục năm hoặc có thể xa hơn; xác định mục tiêu trong từng thời kỳ (chiến lược,
kế hoạch phát triển 5 năm, hàng năm…); xác định thứ tự ưu tiên các mục tiêu;
xác định các giải pháp thực hiện mục tiêu. Công cụ để thực hiện định hướng phát
triển nền kinh tế đó là: chiến lược phát triển kinh tế; quy hoạch phát triển kinh
tế; kế hoạch phát triển kinh tế; các chương trình, các dự án phát triển kinh
tế.
+ Tạo lập môi trường cho
sự phát triển kinh tế. Môi trường cho sự phát triển kinh tế là tổng thể các yếu
tố, các điều kiện khách quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài. Có mối liên hệ
mật thiết với nhau, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phát triển kinh
tế. Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vấn đề này, nhà nước phải tập
trung xây dựng các môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường chính
trị, văn hóa, xã hội, môi trường dân số, sinh thái, kỹ thuật, môi trường quốc
tế… đảm bảo cho các môi trường đó thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.
+ Điều tiết sự hoạt động
của nền kinh tế. Điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế là nhà nước sử dụng
quyền năng chi phối của mình lên các hành vi kinh tế của các chủ thể trong nền
kinh tế thị trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến các quá trình hoạt động
kinh tế, ràng buộc chúng phải tuân thủ các quy tắc hoạt động kinh tế đã định
sẵn nhằm bảo đảm cho sự phát triển bình thường của nền kinh tế. Hoạt động điều
tiết nền kinh tế của nhà nước tập trung vào cácn nội dung cơ bản là: điều tiết
các quan hệ lao động sản xuất; điều tiết các quan hệ phân bố các nguồn lực;
điều chỉnh các quan hệ phân chia lợi ích và quan hệ phân phối thu nhập. Để thực
hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trong việc điều tiết sự hoạt động của nền
kinh tế, đòi hỏi Nhà nước ta cần thực hiện tốt các vấn đề chính là: Xây dựng và
thực hiện một hệ thống chính sách với công cụ tác động của chính sách như: chính
sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách thương mại….;
Bổ sung hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế trong những lĩnh vực cần thiết như
cho những ngành, những lĩnh vực tư nhân không được làm hoặc không làm được hoặc
không muốn làm. Hỗ trợ công dân lập nghiệp kinh tế như: xây dựng các ngân hàng
đầu tư ưu đãi, xây dựng, thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm sản xuất, kinh
doanh, thực hiện các chương trình bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho người dân,
thực hiện hỗ trợ pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật cần thiết…
+ Kiểm tra, giám sát hoạt
động kinh tế. Nội dung của kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tập trung
vào các vấn đề chính là: kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chủ
trương, chính sách, pháp luật, kế hoạch của Nhà nước về kinh tế; kiểm tra, giám
sát việc sử dụng các nguồn lực của đất nước, kiểm tra, giám sát việc xử lý chất
thải, bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, kiểm tra, giám sát các
sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các
chức năng và việc tuân thủ pháp luật
của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước về kinh tế. Để thực
hiện chức năng kiểm tra, giám sát cần chú ý tăng cường chức năng giám sát của
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với Chính phủ và Ủy ban nhân dân các
cấp; Tăng cường chức năng kiểm tra của Viện Kiểm sát nhân dân, các cấp Thanh
tra của Chính phủ và của Ủy ban nhân dân các cấp; Nâng cao tinh thần trách
nhiệm của Những người lãnh đạo Nhà nước: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ
tưởng Chính phủ…; Nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân, của các tổ
chức chính trị xã hội, các cơ quan ngôn luận đối với hoạt động kinh tế; Hoàn
thiện hệ thống văn bản kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế…..
- Nhà nước cần thực hiện
tốt nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, bao gồm: Tổ chức tốt bộ máy quản lý
nhà nước về kinh tế; Thực hiện tốt việc xây dựng phương hướng mục tiêu, chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội; Xây dựng hoàn thiện các văn bản pháp luật
kinh tế đồng bộ, hợp lý; Tổ chức tốt hệ thống các doạnh nghiệp; xây dựng đồng
bộ kết cấu hạ tầng cho mọi hoạt động kinh tế; kiểm tra, kiểm soát hoạt động của
các đơn vị kin tế; thực hiện và bảo vệ lợi ích của xã hội, của Nhà nước, của
công dân…
Từ sự phân tích nội dung,
phương thức dân chủ và quản lý kinh tế của nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa trên đây chúng ta thấy rõ tính độc lập tương đối và tính
thống nhất chặt chẽ giữa dân chủ và quản lý xã hội trên lĩnh vực kinh tế ở nước
ta hiện nay. Do đó một mặt, trong thực hiện vấn đề dân chủ đối với lĩnh vực
kinh tế của đất nước, chúng ta cần tăng cường quản lý Nhà nước và quản lý của
các tổ chức bộ máy, các cơ quan đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh
tế của đất nước; mặt khác trong quản lý kinh tế chúng ta cũng cần hết sức chú
trọng tới phát huy, mở rộng dân chủ trên tất cả các lĩnh vực, các quá trình,
các hoạt động kinh tế của đất nước.
* Dân chủ và quản lý xã hội về chính trị:
Chế độ chính trị mà chúng
ta xây dựng là chế độ xã hội chủ nghĩa, đó là phù hợp với quy luật tiến hóa của
lịch sử. Dân chủ và quản lý xã hội về chính trị hiện nay có nội hàm rất rộng.
Trong đó về thực chất thực hiện dân chủ về chính trị và quản lý Nhà nước trên
lĩnh vực chính trị của đất nước ta hiện nay chính là tập trung xây dựng hệ
thống chính trị XHCN vững mạnh bao gồm các nội dung chính là:
Mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ ta, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. cần tập trung xây dựng
và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm cho dân chủ được thực hiện
trong thực tế cuộc sống ở mọi cấp, mọi lĩnh vực. Mở rộng dân chủ gắn liền với
tăng cường kỷ cương, kỷ luật và được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật
bảo đảm. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền của công dân, chăm lo cho sự phát
trển của công dân. Nhân dân thực hiện quyền dân chủ về chính trị thông qua hoạt
động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực
tiếp, dân chủ đại diện.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do
dân, vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
minh công nông và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN.
Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân vững
mạnh. Mặt trận Tổ
quốc Việt nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân. Các đoàn thể nhân dân tùy theo tính chất, tôn chỉ và mục
đích xác định có chức năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhân dân, vận động
giáo dục, tổ chức cho nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước.
Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư
tưởng, tổ chức. Đảng
Công sản Việt nam là Đảng cầm quyền, một bộ phận trong hệ thống chính trị XHCN,
là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN, lãnh đạo đất nước trong suốt
tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Phải tập trung xây dựng Đảng vững
mạnh thực sự đủ bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo.
Để thực hiện dân chủ và quản lý xã hội về
chính trị hiện nay, Đảng, Nhà nước cần thực hiện tốt một số vấn đề chính là:
Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong suốt tiến trình xây
dựng và phát triển đất nước. Bảo vệ, phát triển và hiện thực hóa nền tảng tư
tưởng của xã hội đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bám sát sự
phát triển của cách mạng, phân tích khoa học những vấn đề lý luận, thực tiễn
thường xuyên có đường loiis, chủ trương lãnh đạo sát đúng với thực tiễn. xây
dựng môi trường chính trị, kinh tế, xã hội tích cực, ổn định cho sự phát triển
của đất nước. tăng cường xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy tốt
chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị xã hội….
Từ sự phân tích nội dung,
phương thức dân chủ và quản lý về chính trị trên đây cho thấy rõ mối quan hệ
chặt chẽ giữa dân chủ và quản lý xã hội trên lĩnh vực chính trị ở nước ta hiện
nay. Do đó một mặt, trong thực hiện vấn đề dân chủ đối với lĩnh vực chính trị
của đất nước, chúng ta cần tăng cường quản lý xã hội, tăng cường kỷ luật, kỷ
cương với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; mặt
khác trong quản lý xã hội về chính trị, chúng ta cũng cần hết sức chú trọng tới
phát huy, mở rộng dân chủ trên tất cả các lĩnh vực, các quá trình, các hoạt
động chính trị của đất nước.
* Dân chủ và quản lý xã hội về văn hóa:
Nền văn hóa mà chúng ta
xây dựng hiện nay là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển
toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ,
tiến bộ. thực hiện dân chủ và quản lý xã hội trên lĩnh vực văn hóa cần chú ý
thực hiện tốt một số tư tưởng chỉ đạo chính là:
- Xây dựng, phát triển
nền văn hóa Việt nam gắn bó chặt chẽ với các vấn đề về chính trị, về xây dựng,
phát triển kinh tế. Toàn bộ các lĩnh vực đó phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt nam, sự quản lý của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
- Bảo đảm dân chủ, tự do
cho mọi sự sáng tạo và hoạt động văn hóa theo đúng quan điểm, đường lối của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với chuẩn mực giá trị truyền thống văn
hóa tốt đẹp của dân tộc.
- Bảo tồn, phát huy
truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc gắn với mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp
thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm giàu, đẹp thêm văn hóa Việt Nam; khuyến
khích sự tìm tòi, sáng tạo cái mới, cái tiên tiến. Bảo đảm sự thống nhất và đa
dạng của văn hóa các dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam.
- Nâng cao tính tư tưởng,
tính chiến đấu của các hoạt động văn hóa nghệ thuật, đấu tranh chống lại những
luận điệu độc hại của các thế lực thù địch. Thực hiện chủ trương xã hội hóa
hoạt động văn hóa…, song cần chú ý chống khuynh hướng “thương mại hóa”.
Những tư tưởng chủ đạo
trong xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay đã phản ánh rõ mối
quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội trên lĩnh vực này. Do đó cần tăng cường
mở rộng dân chủ, đi liền với tăng cường quản lý xã hội đối với lĩnh vực văn
hóa.
* Dân chủ và quản lý xã hội về quốc phòng, an ninh:
Đây là một nội dung quan
trọng thể hiện sự gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội
hiện nay.
Nền quốc phòng- an ninh của
chúng ta là nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Mục tiêu, nhiệm vụ của
quốc phòng, an ninh nhân dân là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹ
lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN, giữ
vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn
xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của
các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Mục tiêu,
nhiệm vụ đó vừa là sự thể hiện gắn kết chặt chẽ giữa mở rộng dân chủ XHCN và
tăng cường quản lý xã hội XHCN đối với lĩnh vực này. Đồng thời để thực hiện
thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng – an ninh của đất nước ta hiện nay càng
cần thiết phải mở rộng, phát huy dân chủ XHCN và tăng cường quản lý của xã hội
đối với lĩnh vực này.
Thứ ba, xây dựng, mở rộng, phát huy dân chủ XHCN gắn với tăng cường
quản lý xã hội XHCN hiện nay là một nội dung trọng tâm cho việc xây dựng xã hội
phát triển ổn định, bền vững, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Dân
chủ và quản lý xã hội hiện nay là hai mặt của một vấn đề, chúng có tác động qua
lại thống nhất biện chứng với nhau, chúng vừa đặt ra yêu cầu đòi hỏi lẫn nhau,
vừa tác động bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Dân chủ XHCN và quản lý xã hội XHCN ở
nước ta hiện nay tác động đan xen với nhau. Mỗi bước đi thực hiện tăng cường
dân chủ XHCN cũng chính là thực hiện tăng cường quản lý xã hội trong chế độ
XHCN ở nước ta và ngược lại. Sự gănns kết chặt chẽ của dân chủ và quản lý xã
hội trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Thực hiện tốt vấn đề xây dựng, mở rộng, phát huy dân
chủ XHCN gắn với tăng cường quản lý xã hội XHCN hiện nay là một mục tiêu, một
nhiệm vụ, một nội dung trọng tâm cho việc xây dựng xã hội phát triển ổn định,
bền vững, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa hiện nay. Do đó trong nhận thức và hành động thực tiễn đòi hỏi
các cấp, các ngành và toàn thể xã hội phải thực hiện cho tốt vấn đề này theo vị
trí, chức năng, mục đích của từng tổ chức, từng cá nhân. Chóng mọi biểu hiện
tách dời hai mặt dân chủ và quản lý xã hội hiện nay.
3. Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường
mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội của đất nước ta hiện nay
- Nâng cao nhận thức cho các chủ thể,
các lực lượng trong toàn xã hội về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dân
chủ và quản lý xã hội trong mọi hoạt động của các tổ chức, các lực lượng của
toàn xã hội hiện nay.
-
Xây dựng và ban hành các văn bản pháp lý đồng bộ chặt chẽ làm công cụ để thực
hiện tăng cường mối quan hệ giữa dân chủ và quản lý xã hội của đất nước ta hiện
nay.
-
Đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện vấn đề mở rộng, phát huy dân chủ XHCN và tăng
cường quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (bao gồm: từ
khâu xây dựng bộ máy, xác định chính xác cơ chế hoạt động, xây dưungj kế hoạch,
tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và điều chỉnh việc thực hiện đó) trong
thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
-
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh quá trình thực
hiện mở rộng, phát huy phát huy dân chủ XHCN và tăng cường quản lý xã hội trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Dân, Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức, Nxb Khoa học xã hội,
HN, 2008.
2.
Đảng cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI, Nxb Chính trị Quốc gia, HN 2010.
3.
Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
(tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2008
4.
Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về giáo dục
Việt Nam đầu thế kỷ XXI,
Nxb Giáo dục Việt Nam,
HN, 2010.
5.
Học viện Hành chính, Quản lý Nhà nước đối
với ngành, lĩnh vực, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, HN 2009.
6.
Harold Koontz – Cyril O’donnell – Heinz Weihrich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, (Bản dịch của Vũ Thiếu, Nguyễn
Mạnh Quân, Nguyễn Đăng Dậu) Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 1992.
7.
Nguyễn Mạnh Kháng, Một số vấn đề lý luận
về quản lý xã hội trong những tình huống bất thường, Nxb Tư pháp, HN 2009.
8.
Đinh Xuân Lý (Chủ biên), Phát triển xã
hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị
Quốc gia, HN, 2010.
9.
Song Thành, Hồ Chí Minh Nhà văn hóa kiệt
xuất, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2010.
10.
Võ Hào Quang, Xã hội học quản lý, Nxb
Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002.
11.
Lê Minh Quân, Hòa bình - Hợp tác và phát
triển xụ thế lớn trên thế giới hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2010.
12.
Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý, Nguyên
lý quản lý, NXB Lao động & Xã hội, HN, 2007.